nguồn gốc của văn học

Nguyễn Văn Lợi (June 9, 1947 - December 20, 2020) was a Vietnamese linguist who served as the Deputy Director of the Institute of Linguistics (Vietnamese: Viện Ngôn ngữ học) at the Vietnam Academy of Social Sciences. Vì vậy, Kiomath luôn tôn trọng từng cá tính của trẻ, lấy Kiomath luôn tin tưởng sâu sắc những năm đầu đời, là giai đoạn vàng cho sự hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ của mỗi con người. Giới thiệu về nguồn gốc KioMathGiới thiệu về nguồn gốc Từ câu chuyện này tác giả trình bày nguồn gốc của văn học. Theo Hoài Thanh: "Cái gốc cốt yếu của văn chương là tấm lòng. Yêu người và nói chung là yêu vạn vật, muôn loài". Có nhiều nhà lý luận đã trình bày: văn chương nảy sinh từ việc làm, hay văn học nảy sinh từ nỗi đau, khát vọng cao cả của con người … TRUY VẾT NGUỒN GỐC SẢN PHẨM HÀNG HÓA QUỐC GIA. Mã số truy vết sản phẩm Mã GTIN & Số lô đóng gói Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và Vụ Phát triển KH&CN địa phương đã phối hợp tổ chức Hội thảo thu thập dữ liệu phục vụ xây dựng Văn Hoá Nghệ Thuật - Di sản văn hoá phi vật thể Việt Nam, thế giới. Phong cách sống, ngôn ngữ nghệ thuật, văn hoá ứng xử, luật di sản văn hoá Di sản kiến thức của học giả An Chi sẽ sống mãi với nhiều thế hệ Kỳ 89: Cà phê - Nguồn năng lượng tuyệt vời cho Sächsische Zeitung Anzeigen Sie Sucht Ihn. Điều làm nhiều người vô cùng ngạc nhiên là vào thời điểm này – dưới ánh sáng mới của khoa học – mà còn một số trí thức khoa bảng Việt Nam tung ra hai hỏa mù trong mặt trận văn hóa giữa Ta và Tàu 1 – Khuynh hướng xem văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Tàu Việt Nam cùng lắm cũng chỉ là một cành Nam của gốc Hán. 2 – Khuynh hướng đi tìm nguồn gốc văn hóa Việt Nam ở tận bên Tàu Khổng Tử đã công thức hóa, chữ nghĩa hóa văn hóa của đại tộc Bách Việt sống trên đất Tàu thành Ngũ Kinh và Tứ Thư. Khuynh hướng này cho rằng nếu bỏ Nho thì chúng ta chỉ tìm thấy ngọn chứ chưa đến tận gốc của văn hóa Việt. Khuynh hướng này đã “sáng tạo” ra quan niệm Nho giáo có bốn giai đoạn a Hoàng Nho, thuộc Tam Hoàng từ 4450-3080 trước Tây lịch. b Di Nho, thuộc thời vua Thuấn 2255 trước Tây lịch, vua Vũ 2205 trước Tây lịch. c Việt Nho, hay Nguyên Nho nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa thành kinh điển của Nho giáo thời Xuân Thu 821 trước Tây lịch. d Hán Nho cũng là Nho giáo từ thời nhà Chu 1122 trước Tây lịch, nhưng bị sa đọa với sự xuyên tạc của nhà Hán Đông Lan Yêu Mến An Vi, nxb Văn Hiến năm 2004, tr. 194. Nói Nho giáo là của Trung Hoa thì quá chung chung, và do vậy, không có sức giải thích. Còn nói rằng chữ Nho cũng như đạo Nho thoạt kỳ thủy do người Bách Việt sống trên đất Tàu khởi sáng, rồi sau đó người Tàu hoàn bị thì có lẽ quá cực đoan và không có sức thuyết phục 95% người dân Việt sống trong xóm làng, cái nôi của văn hóa Việt Nam. Phải chăng văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Trung Hoa? Những quan niệm, ý tưởng sau đây phần lớn là dựa vào những điều mà tác giả Trần Quốc Vượng ghi trong cuốn Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, cộng thêm những gợi ý, ý kiến của tác giả Trần Ngọc Thêm ghi trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Cung Đình Thanh trong tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học, tác giả Đào Văn Dương và tác giả Thường Nhược Thủy trong Đạo Sống Việt. Duới ánh sáng mới của khoa học khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học, di truyền học, hải dương học v. v… , với những tài liệu vật chất lấy lên từ lòng đất Việt Nam, người ta đã chiếu rọi vào quá khứ hàng mấy vạn năm. Các nền văn hóa trên đất Việt. Chỉ cần đi sâu nghiên cứu văn hóa Hòa Bình thôi trước năm đến năm trước ngày nay chúng ta biết được cư dân hòa bình tiền thân của dân tộc Việt Nam đã thuần hóa cây lúa hoang thành cây lúa nước Oryza Sativa, thực hiện cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước từ năm đến năm trước đây, trong bối cảnh Đông Nam Á, có thiên nhiên phong phú và đa dạng. Trước đó cả ngàn năm cư dân Hòa Bình đã biết trồng cây có củ, cây ăn quả bầu bí, rau dưa v. v… Các nhà nghiên cứu đều đồng thuận nông nghiệp, nông nghiệp trồng lúa nước là khởi đầu văn minh nhân loại. Cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước đánh dấu một bước tiến bộ vĩ đại trong đồi sống của cư dân Hòa Bình đã để lại cho chúng ta một niềm tự hào lớn. 1. Văn hóa Hoà Bình là nền văn hóa tiếp nối nền văn hóa Sơn Vi huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú thuộc hậu kỳ đá cũ, có tuổi từ năm đến năm trước ngày nay. Văn hóa Hòa Bình được quốc tế công nhận vào ngày 30 tháng giêng năm 1932, do Đại hội các nhà tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua. Nền văn minh trồng lúa nước vốn là nền văn minh của cư dân Hòa Bình đã tạo được thế quân bình bền vững của nền văn hóa xóm làng văn hóa truyền miệng, văn hóa chìm hay văn hóa vô ngôn, giữa con người và thiên nhiên Việt Nam trong khủng cảnh Đông Nam Á từ ngàn xưa chứ không phải thiên nhiên Tàu, thiên nhiên Hoàng Hà 2. Tiếp theo văn Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, với những chiếc rìu mài lưỡi nổi tiếng, cả thế giới đều biết. 3. Tiếp theo văn hóa Bắc Sơn từ trước năm đến năm trước ngày nay là văn hóa Phùng Nguyên Phú Thọ cách ngày nay khoảng 4. 500 năm, cội nguồn của văn minh sông Hồng. Đó là thời đại các vua Hùng dựng nước. Di tích văn hóa Phùng Nguyên được tìm thấy ở nhiều tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng. 4. Tiếp theo văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa Đông Sơn, có niên đại sớm là 2820 năm cách ngày nay, với trống đồng, trong đó có trống đồng Ngọc Lũ nổi tiếng trên thế giới. Trong lúc người Việt cổ xây dựng nền văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn thì cái nước mà ngày nay chúng ta gọi là Trung Hoa mới được tạo dựng lên ở mạn trung lưu Hoàng Hà, và nền văn minh Trung Hoa ban đầu là nền văn minh Hoàng Hà với ranh giới ba tỉnh bây giờ Sơn Tây Quê hương của Đế Nghiêu, Hà Nam quê Hạ Vũ, kinh đô của nhà Ân, Thiễm Tây Núi Kỳ sông Vị, quê hương của nhà Chu từ 1122 đến 25 trước Tây lịch. Nếu đầu óc không bị điều kiện hóa bởi văn hóa Trung Hoa thì đứng ở góc độ nào – văn hóa bác học hay văn dân gian – cũng nhận thấy sự khác biệt giữa văn hóa Việt và văn hóa Tàu. Vì văn hóa theo nghĩa rộng là thiên nhiên – môi trường sống – được thích ứng, biến đổi bởi con người để thoả mãn nhu cầu về mọi mặt của con người. Nói cách khác, văn hóa là toàn thể các hình thái sinh hoạt về vật chất và tinh thần của con người trong cách thích ứng, tiếp xử với thiên nhiên và xã hội, lịch sử. Từ đó hình thành cách làm ăn chăn nuôi theo bầy, sống đồi sống du mục hay trồng trọt đời sống định cư với xóm làng, cách ăn, mặc, ở, cách ứng xư, thái độ của con người đối với thiên nhiên, vũ trụ, xã hội và lịch sử. Như vậy, nói một cách đơn giản thiên nhiên – môi trường sống – và lịch sử là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng sâu rộng đối với con người trong việc hình thành văn hóa. Sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa Trong những điều kiện đó, văn hóa Việt Nam văn minh sông Hồng và văn hóa Trung Quốc văn minh Hoàng Hà khác nhau từ căn bản Từ tiếng nói, lối sống, cách ăn, mặc, ở, lối suy nghĩ, cung cách ứng xử đến cội nguồn. Phải chăng giới trí thức khoa bảng Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong khi tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tức nhìn lại chính mình để biết mình là ai? Đầu óc đã bị điều kiện hóa, chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Trung Hoa Nào thơ Đường, điển tích Tàu, tam cương ngũ thường v. v… , đôi khi quên đi cả thiên nhiên Việt mà họ đang sống như đã trình bày ở phần trên. Trái lại, người dân Việt nhận thấy sự khác biệt giữa Ta và Tàu dễ dàng. Tiếng nói khác. Ngày xưa Tàu mặc quần, Việt mặc váy cái thúng mà thủng hai đầu, bên Ta thì có bên Tàu thì không. Ngày nay, Ta mặc áo dài, Tàu mặc áo Xườn Xám của Mãn Thanh. Nón lá của ta khác hẳn nón vành ngang của Tàu. Tàu ăn cháo kê, bánh bao, dùng xì dầu. Ta ăn cơm, ăn xôi, ăn bánh chưng bánh dày, bát tương, chén nước mắm và đặc biệt đôi đũa là một sáng tạo của văn minh trồng lúa nước của Việt Nam. Từ địa hạt vật chất đôi đũa đã đi vào lĩnh vực tinh thần, triết lý Việt Nam Vợ chồng như đôi đũa có đôi, chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho đều; vơ đũa cả nắm, thủ tục ly hôn ngày xưa là bẻ đũa. Thời trước Khổng Tử Xuân Thu Chiến Quốc cho đến nhà Tần 221 trước Tây lịch Tàu ăn bốc ăn bánh bột luộc, bánh bao. Khi Tần Thủy Hoàng chiếm miền Nam sông Dương Tử và từ đời Hán trở đi người Tàu bắt đầu tiếp thu đôi đũa của dân trồng lúa nước ở phía Nam. Tàu ăn nhiều mỡ xứ lạnh ít rau. Ta ăn mỡ ít xứ nóng nhiều rau, đủ loại đủ màu, thường ăn rau sống nhiều hơn Tàu. Có thể nói là gì và hoa gì ăn được đều có mặt trong nồi canh của nông dân Việt đói ăn rau, đau uống thuốc. Nghệ thuật nấu ăn của Trung Quốc là đổ mỡ vào thức ăn để chiên, xào. Trái lại nghệ thuật nấu ăn của người Việt là nấu, nướng và luộc nghĩa là rút mỡ từ thức ăn ra điều này phù hợp với nghệ thuật ăn uống dùng ít mỡ trong bữa ăn theo tiêu chuẩn dinh dưỡng hiện đại. Càng ngược dòng lịch sử sự khác biệt càng sâu sắc. Lưu vực Hoàng Hà là khu vực khí hậu đại lục, lạnh lẽo, khô hạn, lượng mưa ít, lượng bốc hơi cao, có nhiều đồng cỏ mênh mông thích hợp cho nghề chăn nuôi theo bầy, kéo theo đời sống du mục nay đây mai đó lang thang trên cánh đồng cỏ. Lưu vực sông Hồng là khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nước dư thừa, nhiệt đầy đủ với những đồng bằng thích hợp cho việc trồng trọt sống định canh định cư trong xóm làng. Đất trồng trọt của người Trung Hoa ban đầu ở cao nguyên và bình nguyên Hoàng Hà là hoàng thổ, do gió Tây mang lại. Đất trồng trọt của người Việt ở lưu vực các dòng sông là phù sa nâu, do sông cái sông con bồi đắp. Nông nghiệp Trung Hoa, khi người Hoa Hạ chiếm lưu vực sông Hoàng Hà, từ khởi thủy là nền nông nghiệp trồng khô. Nông nghiệp Việt Nam, từ ban đầu, là một nền nông nghiệp trồng nước, trồng lúa nước, sử dụng hệ thống ngập nước, ruộng Lạc theo nước thủy triều lên xuống, với hệ thống tuới nước đa dạng gàu dai, gàu sòng, kênh ngòi. Người Trung Hoa trồng túc – tiểu mễ hay kê – sau đó trồng cao lương, rồi trồng lúa mạch kiểu trồng khô. Người Việt trồng cây có củ khoai các loại và đặc biệt từ 6000 đến 7000 năm trước đây đã trồng lúa nước. Kỹ thuật trị thủy sông Hoàng Hà, người Trung Hoa khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy. Trái lại, kỹ thuật trị thủy của người Việt là đắp đê. Ít nước trên mặt, người Trung Hoa phải đào giếng để tìm nguồn nước. Người Việt sống ở vùng sông ngòi chằng chịt, đầm đìa, hồ ao khắp nơi, quen sử dụng nước trên mặt. Ở Việt Nam ao rất đa dạng Ao nuôi cá, ao rau muống v. v… Ao đã đi vào cuộc sống tinh thần Đêm qua ra đứng bờ ao; trúc sinh trúc mọc bờ ao; ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Người Trung Hoa ở nhà hầm, người Việt Cổ sáng tạo cái nhà sàn với mái cong độc đáo hình thuyền. Luật pháp của Tàu và Ta hoàn toàn khác nhau. Sau cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng thất bại Mã Viện tâu với vua Hán rằng luật Việt và luật Hán khác nhau đến mười điểm, và xin áp dụng luật Hán trên đất Việt Luật Hồng Đức đời Lê hoàn toàn khác hẳn luật Tàu. Sẽ trình bày vào một dịp khác. Tâm Việt Hồn Việt còn thì văn hóa Việt còn Người còn tâm Việt, hồn Việt nhìn vào đời sống hàng ngày nhận ra ngay sự khác biệt giữa Tàu và Ta Tiếng nói khác, cách chào hỏi khác Tàu Ăn chưa? Việt Mạnh khỏe không?, cách mặc khác, thức ăn khác, kỹ thuật nấu ăn khác, lối xưng hô khác Tàu nị ngô như Tây phuơng toi, moi, you me; Ta chú bác, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em v. v… Đi lại ở miền khô, trên vùng cao nguyên, gần thảo nguyên, thuận lợi cho việc chăn nuôi ngựa, người Trung Hoa thường dùng ngựa, xe cộ trong kỹ thuật giao thông. Quân đội lấy ưu thế là kỵ binh. Lúc đầu người Trung Hoa lấy Ngựa làm biểu tượng cho dân tộc Tàu, sau đổi thành con vật mình ngựa đầu rồng, rồi đến Cọp và sau cùng là Rồng. Dân tộc Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng, miền sông nước chằng chịt với hồ ao khắp nơi, gắn trồng trọt với chài lưới, thuyền bè các loại trở thành phương tiện giao thông chính. Thế cho nên, người Việt từ thượng cổ đã nổi tiếng lặn giỏi, bơi tài, giỏi cùng thuyền. Yếu tố sông nước trong môi trường sống đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam. Từ cái làm trồng lúa nước đến cái ăn gạo, đạm thủy sản, chốn ở nhà sàn, sống trên thuyền bè, chợ thuyền, nhà sàn trên nước giao thông thuyền bè, cầu phao giải trí múa rối nước quân sự thạo thủy chiến cho đến cái chết thuyền táng đều liên hệ đến nước. Tổ tiên chúng ta lấy Tiên và Rồng làm biểu tượng của cội nguồn dân tộc Việt Nam. Người Việt mà có nhãn quan Tàu Người mang cặp mắt kiến Tàu – không còn tâm Việt, hồn Việt – nhìn vào đời sống của người Việt Nam thấy cái gì cũng là Tàu hoặc chịu ảnh hưởng Tàu hay từ Tàu mà ra. Chẳng hạn, đến như học giả Nguyễn Hiến Lê, một khi đã đeo cặp mắt kiến Tàu cũng không giữ được thái độ khách quan trong nhận định Đối với dân tộc Di, Địch, Khổng Tử không có tinh thần phân biệt chủng tộc, mà chỉ phân biệt văn hóa như khi ông bảo không nhờ công của Quản Trọng thì người Hoa Hạ đã bị gióc tóc mặc áo có vạt bên trái rồi Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, nxb Văn Nghệ năm 1992, tr. 188, dòng 11 đến 15. Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Vậy, kỳ thị phân biệt văn hóa mà không kỳ thị dân tộc, kỳ thị chủng tộc thì sao được? Hơn nữa, Khổng Tử xem dân tộc Di tức Bách Việt là dân mọi rợ trong lời phát biểu của ngài Cho đến nay dân chúng còn được hưởng ân đức của ông ấy. Không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc và cài áo bên tả như người mọi rợ rồi Nguyễn Hiến Lê, lịch sử văn minh Trung Hoa, nxb Văn Nghệ năm 1993, trang 26, dòng 17 đến 19. Xem dân tộc Di là dân tộc mọi rợ mà cho rằng Khổng Tử không có tinh thần kỳ thị chủng tộc được sao? Điều đó cho thấy trí thức khoa bảng Việt Nam, một khi đã có nhãn quan Tàu thì các ông thánh Tàu có miệt thị tổ tiên mình cũng cố tìm cách đổi chữ, hoặc bóp méo đi hay thay đổi lối suy nghĩ để nuốt cho trôi liều thuốc đắng ngõ hầu bảo vệ những thần tượng mà mình đã trót tôn thờ từ lâu. Đối với 95% người dân Việt chất phác, hiền lương, thiện lành thì không có vấn đề. Còn giới trí thức khoa bảng trẻ Việt Nam, không đọc được chữ Tàu, hãy thận trọng trong khi nghiên cứu, tìm hiểu về Trung Hoa, phải đề cao cảnh giác những trí thức khoa bảng Việt Nam rành chữ Hán có thể họ bóp mép sự thật – vì vô tình bởi đầu óc bị điều kiện hóa bởi văn hóa Tàu hay có mưu đồ – sẽ đưa chúng ta vào con đường nô lệ tư tưởng Tàu với cách học nhập nô xuất nô. Như trên đã trình bày nô lệ tư tưởng là nô lệ từ trong tim óc, tức không còn tâm Việt hồn Việt. Từ đó phát sinh ra tinh thần vọng ngoại, sợ ngoại, trọng ngoại và ỷ ngoại để rồi giao sinh mệnh của dân tộc và đất nước mình cho ngoại bang. Là người Việt Nam, nếu không sáng suốt trong suy nghĩ, trong hành động, trong cách học về Trung Hoa học vô tình chúng ta sẽ trở thành đoàn quân gián điệp văn hóa cho Trung Quốc. Đã đến lúc chúng ta cần trở về với chính mình để hiểu rõ chân xác chính chính mình về mặt tri thức và tâm thức. Vĩnh Như Diễn đàn Việt Học Bài được đăng trên anviettoancau Tranh minh họa Lĩnh Nam chích quái – Tạ Huy Long. Đôi khi văn học không trực tiếp miêu tả con người nhưng con người vẫn là trung tâm mà văn học hướng tới. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn nói lên những mơ ước, khát vọng, những tâm tư tình cảm của con người, trong chiều sâu tâm hồn với tất cả sự đa dạng và phong phú của nó. Văn học là bộ môn nghệ thuật lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng.​ Lí luận, văn học là gì? Văn học là gì? Đặc trưng của Văn học I. Văn học là một môn nghệ thuật 1. Khái niệm - Văn học là bộ môn nghệ thuật lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. - Quy luật Cái đẹp nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm vô cùng phong phú của con người. - Đôi khi văn học không trực tiếp miêu tả con người nhưng con người vẫn là trung tâm mà văn học hướng tới. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn nói lên những mơ ước, khát vọng, những tâm tư tình cảm của con người, trong chiều sâu tâm hồn với tất cả sự đa dạng và phong phú của nó. 2. Đặc trưng của văn học a. Đặc trưng về đối tượng phản ánh của văn học Những quan niệm khác nhau về đối tượng phản ánh của văn học -Những nhà mỹ học duy tâm khách quan +Văn học hướng nhận thức về thế giới vĩnh hằng của Thượng đế, của cái ý niệm có trước loài người. Sự chiêm nghiệm, sự hồi tưởng và miêu tả cái đẹp của ý niệm tuyệt đối là đối tượng của văn học. +Đối tượng của văn học không nằm ở thế giới hiện thực mà chỉ có trong ý niệm,nó hiện hình qua linh ứng của người nghệ sĩ. -Những nhà mỹ học duy tâm chủ quan đối tượng của văn học nằm ngay trong những cảm giác chủ quan của người nghệ sĩ và nó là cái tôi bề sâu không liên quan gì đến đời sống hiện thực. -Những nhà duy vật chủ nghĩa +Đối tượng phản ánh của văn học nằm ở trong hiện thực khách quan và đối tượng đó phải mang tính thẩm mĩ => Quan niệm đúng đắn, tiến bộ, đầy đủ. Những đặc trưng cơ bản của văn học -Đối tượng của văn học là toàn bộ sự sống của con người, phản ánh +Tư tưởng, tình cảm, đạo đức của con người. +Con người với những giai cấp, bản chất của nó. b. Đặc trưng về nộ dung phản ánh của văn học -Là đối tượng đã được ý thức, tái hiện có chọn lọc và khái quát trong tác phẩm và biểu hiện trong tác phẩm như là một tư tưởng về đời sống hiên thực. -Đặc điểm quan trọng của nội dung văn học là khát vọng tha thiết của nhà văn muốn thể hiện một quan niệm về chân lí của đời sống. -Nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng, giá trị. Nó không chỉ gắn liền về một quan niệm với chân lí của đời sống mà còn gắn liền với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. c. Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học ngôn từ nghệ thuật Tính chính xác và tinh luyện -Tính chính xác là một yếu tố quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt trong ngôn từ => Gợi ra được cái “thần” của sự vật, hiện tượng, chỉ ra đúng bản chất của đối tượng được miêu tả trong tác phẩm. -Ngôn từ trong văn học đòi hỏi tính chính xác cao độ, vì vậy cũng đòi hỏi cả người viết lần người đọc phải có sự nhạy cảm và tinh tế. Tính hàm xúc, đa nghĩa -Ý tại ngôn thoại ý ở ngoài lời tạo ra dư vang, nén chặt ý tạo ra sức nặng và nhiều lượng ngữ nghĩa. -Tiếng Việt các biện pháp tu từ và sự chuyển nghĩa => Tính đa nghĩa của văn học Tính hình tượng -Là đặc trưng quan trọng nhất của văn học -Biểu hiện ở việc làm sống dậy hiện thực trong tâm trí độc giả, tái hiện trạng thái, truyền được động tác hoặc sự vận động của con người, cảnh vật và toàn bộ thế giới mà tác phẩm nói tới. Ngoài ra nó còn biểu hiện ở sự nắm bắt những cái mơ hồ nhất, mong manh vô hình nhất chứ không chỉ dừng lại ở những cái hữu hình. -Hình tượng văn học có thể là con người hoặc là toàn bộ sự vật, hiện tượng đời sống. Ví dụ bông hoa, vầng trăng, Thúy Kiều, thậm chí chỉ là một nét tâm trạng, một khía cạnh nào đó của tình cảm. => Là cách vẽ về toàn bộ cuộc sống, con người, thiên nhiên được nhà văn sang tạo qua liên tưởng, tưởng tượng để thể hiện tư tưởng, tình cảm và khái quát hiện thực một cách có thẩm mĩ khi ta cảm nhận được hình tượng thì mới cảm nhận được cái hay, cái đẹp và ý nghĩa của văn chương. Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật -Văn học phải cảm nhận bằng tất cả tâm hồn, phải dùng trí tưởng tượng, sự liên tưởng, suy luận cảm xúc với tất cả mọi giác quan và tâm hồn mới có thể hình dung được những sự vật, hiện tượng trong đời sống, điều đó nói lên rằng ngôn từ mang tính chất phi vật thể. -Dù có tính chất phi vật thể nhưng ngôn từ có sức mạnh vạn năng mà không một bộ môn nghệ thuật nào có thể đạt tới được. Nhờ đó văn bản có thể diễn tả được những sự việc theo dòng chảy lịch sử hang ngàn năm, vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc vô hạn. Tính truyền cảm của ngôn từ nghệ thuật Tính tổ chức cao của ngôn từ => Kết luận vũ khí của nhà văn là ngôn từ, văn chương quan trọng nhất là chữ nghĩa, từ ngôn từ nghệ thuật ta nhận ra hiện thực, tài năng, thái độ của nhà văn thể hiện trong tác phẩm. Băng Hình Đấu La Đại Lục tập 231 Đường Tam trở về Hạo Thiên Tông, khiêu chiến 5 vị trưởng lão NộI DungNguồn gốc của văn họcVăn bản có "tài hùng biện" hoặc "thơ ca""Thơ" trong thời kỳ vàng Tây Ban Nha và các loại hình của nóSự xuất hiện chính thức của thuật ngữ văn họcCác hình thức tiếng Anh trong thế kỷ 18 và 19Tính ổn định của thuật ngữ văn họcĐặc điểm của văn họccổ xưaĐộc đáoGiới tínhNhân vật văn họcXu hướng văn họcChức năng thơChủ nghĩa tượng trưngVerisimilitudeTình cảmVăn học là nghệ thuậtCác loại văn họcVăn học truyền miệngVăn học viếtVăn học viễn tưởngVăn học phi hư cấuVăn học tuyệt vờiThể loại văn họcTường thuậtLời bài hátKịch tínhTrường hợp của thể loại giáo khoaChức năng của văn họcChức năng thẩm mỹChức năng xã hộiChức năng văn hóaChức năng âm nhạcChức năng tình cảmHàm tượng trưngChức năng tránh xaChức năng cam kếtKinh điển của văn họcTác giả ẩn danhArthur Conan DoyleCharles DickensDaniel defoeEdgar Allan PoeCơm cháy EdgarEmilio salgariGeorge OrwellGustave FlaubertHermann MelvilleJane AustenJonathan SwiftJuan Ramon JimenezJulio VerneLeon TolstoyMark TwainOscar WildeRobert Louis StevensonVoltaireWashington IrvingNgười giới thiệuCác văn chương Nó là một tập hợp các văn bản hoặc câu chuyện sử dụng từ để gợi lên những suy ngẫm, cảm giác và / hoặc cảm xúc ở người đọc. Những văn bản như vậy có thể là tác phẩm tường thuật, miêu tả hoặc phản ánh về một sự kiện có thật hoặc hư cấu. Học viện Hoàng gia Tây Ban Nha định nghĩa văn học là "nghệ thuật diễn đạt bằng lời nói", đó là lý do tại sao nó được liên kết với cả lời viết và lời nói. Mặc dù thông thường nó có tính chất thơ, thuật ngữ này cũng được dùng để chỉ tất cả các tác phẩm có sẵn về một lĩnh vực kiến ​​thức nhất định hoặc về một tác giả cụ thể văn học sư phạm, văn học Mexico hoặc văn học Cervantes, chẳng đầu, các văn bản được tạo ra là để hát cho các vị thần hoặc đọc tụng. Loại sáng tạo văn học này đòi hỏi một tác phẩm thẩm mỹ phức tạp hơn, đó là lý do tại sao chúng củng cố nghĩa đen của nó và tránh xa thông thường của ngôn ngữ thô đề cập đến văn học, cũng có thể đề cập đến các tác phẩm văn học được tạo ra ở một quốc gia, thị trấn, dân tộc, ngôn ngữ hoặc thời gian cụ thể. Ngoài ra, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ những gì tương ứng với các thể loại văn học, các văn bản độc quyền của một loại khoa học hoặc một nghệ thuật cụ thể. Ví dụ tài liệu y học hoặc văn học bản có "tài hùng biện" hoặc "thơ ca"Sau khi phát minh ra chữ viết ở Mesopotamia vào thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, phải mất năm, thuật ngữ văn học mới xuất thế kỷ thứ mười tám, nó được gọi là văn bản với "tài hùng biện" hoặc "thơ ca" để Sử thi Gilgamesh, được coi là tác phẩm viết đầu tiên. Điều tương tự đã xảy ra với Iliad Hy Lạp hoặc Aeneid Roman, chỉ một vài văn bản."Thơ" trong thời kỳ vàng Tây Ban Nha và các loại hình của nóVề phần mình, trong thời kỳ hoàng kim của sáng tạo chữ viết Tây Ban Nha - Thời kỳ Hoàng kim - toàn bộ vũ trụ của các văn bản trau chuốt được coi là "thơ". Điều này xảy ra bất kể tác phẩm là văn xuôi hay thơ và cách xử lý thẩm mỹ của tác giả có cẩn thận hay không. Bây giờ, trong thời kỳ này, những bài thơ này được phân thành ba loại- Lời ca trong đó mọi thứ liên quan đến những câu hát được tạo ra để hát đều được nhóm Sử thi liên quan trực tiếp đến văn tự sự, bất kể nó được phát triển bằng câu thơ hay văn Kịch thể loại này gắn liền với các tác phẩm sân khấu, là một trong những thể loại phổ biến nhất của cái gọi là "thơ" thời bấy xuất hiện chính thức của thuật ngữ văn họcNhư đã nói trước, thuật ngữ văn học bắt đầu được sử dụng khi thế kỷ 18 bắt đầu và được dùng để nhóm bất kỳ hành động nào sử dụng văn bản để thể hiện một ý tưởng hoặc suy phần mình, nó đang trong công việc Briefe die neueste Literatur betreffend được viết bởi Gotthold Ephaim Lessing, lần đầu tiên từ "văn học" được dùng để chỉ các tác phẩm văn học. Đáng chú ý là, vào thời điểm lịch sử đó, thuật ngữ này chỉ được áp dụng cho những văn bản có phẩm chất văn học nhất định hay còn gọi là “nghĩa đen”.Nhận thức về nghĩa đen của các văn bản sau đó đã được củng cố trong tác phẩm Eléments de litténtic của tác giả người Pháp Jean-François hình thức tiếng Anh trong thế kỷ 18 và 19Vào thời điểm đó, ở Anh, thuật ngữ văn học trở nên rộng hơn, nhường chỗ cho các bức thư, tiểu luận và luận thuyết triết học. Điều này miễn là tính thẩm mỹ được chăm quan trọng cần lưu ý là cuốn tiểu thuyết đã bị phản đối vì nó được coi là một hình thức văn bản kém thể hiện, điều này cũng xảy ra với văn học đường phố, ballad và các bài thơ phổ biến của những người định độ chống lại lẽ phải của con người phản ứng với ý kiến ​​giai cấp hơn là tính thẩm mỹ của tác phẩm. Và điều đó là bình thường nếu nghiên cứu bối cảnh chính trị và xã hội của nước Anh vào thời điểm thế kỷ 19, những hạn chế về những gì có thể hoặc không thể được coi là văn học ở Anh vẫn tiếp tục. Người tạo ra các văn bản nổi bật nhờ sự khéo léo của mình và người đáp ứng những gì mà các tầng lớp thượng lưu và nghiên cứu nhiều nhất yêu cầu được gọi là "văn học". Đây là một thuật ngữ về chiều cao chỉ được đưa ra cho một số tác ổn định của thuật ngữ văn họcTrong những năm qua, ở các nhóm dân cư khác nhau ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Đại Dương và sau đó là Châu Mỹ, ngôn từ văn học đã đạt được sự ổn định cần thiết. Giờ đây, thuật ngữ này tiếp nhận những biểu hiện mà trước đây được coi là ít công phu, nhường chỗ cho cả văn học bản điểm của văn họccổ xưaĐiều này gắn liền trực tiếp với nguồn gốc của chính văn học. Có nhiều giả thuyết về những sáng tạo văn học đầu tiên. Tuy nhiên, Sử thi Gilgamesh vẫn là người đầu tiên của tất cả. Nó được viết trên các viên đất sét, có nguồn gốc từ người Sumer và có niên đại khoảng 2500 năm trước Công nguyên. đáoPhẩm chất này gắn liền trực tiếp với trí tưởng tượng và khả năng văn chương của tác giả. Có thể thấy hàng trăm tác phẩm viết về cùng một chủ đề là điều bình thường, nhưng mỗi tác phẩm sẽ thể hiện những phẩm chất hay đặc điểm của người tạo ra nó. Vì vậy, mỗi tác phẩm văn học là duy nhất, có phong cách xác định và liên quan trực tiếp đến nhà tínhSự đa dạng của các văn bản hiện có đã nhường chỗ cho việc sau này được sắp xếp thành các thể loại. Tuy nhiên, có rất nhiều thể loại trong số này, nổi bật là trữ tình, tự sự và kịch nghệ, đã được giải thích trong các đoạn vật văn họcMỗi biểu thức văn học đều chứa đựng các hình tượng văn học. Những điều này cho phép tăng tính biểu cảm của văn bản. Đổi lại, việc sử dụng các nguồn tài liệu này được xác định bởi khả năng giao tiếp của người viết, cũng như bởi kiến ​​thức và cách sử dụng ngôn ngữ của anh nhân vật văn học đóng một vai trò quan trọng trong các thể loại như thơ ca, tiểu thuyết và tiểu luận, vì chúng tăng cường diễn ngôn. Những con số này bao gồm cách gọi tắt, từ tượng thanh hoặc oxymoron, để đặt tên cho một hướng văn họcKhái niệm dòng văn học nảy sinh để bao hàm những tác phẩm được sáng tác trong một thời gian nhất định và có những đặc thù liên hệ chúng với nhau. Trong số những đặc điểm này, nổi bật lên cả phong cách được sử dụng khi viết chúng, tư tưởng của tác giả, chủ đề hoặc bối cảnh lịch sử mà chúng được phát chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hiện thực huyền diệu và chủ nghĩa siêu thực nổi bật trong số các trào lưu văn học gần đây nhất từng năng thơChức năng thơ là một đặc thù của văn học nhằm tăng cường độ thông điệp cần truyền tải. Đặc điểm này gắn liền với các nhân vật văn học, vì thông qua đó các phẩm chất của văn bản được làm nổi bật. Hàm thơ song hành với cái độc đáo của mỗi tác nghĩa tượng trưngNói chung, một tác phẩm văn học thể hiện cách giải thích của một người về một sự việc cụ thể và cách diễn giải đó thường được trình bày bằng một ngôn ngữ hàm súc, vì vậy nó sẽ mang nhiều ý nghĩa đối với người ra, tải trọng ngữ nghĩa của nó có thể được cô đọng trong các phần nhỏ của văn bản, cảnh, đoạn văn, có thể vượt qua thời gian. Ví dụ, cuộc chiến chống lại những chiếc cối xay gió, trong Don Quixote; hoặc "To be or not to be", từ dù không phải lúc nào chúng cũng đề cập đến các sự kiện có thật, các văn bản văn học thường đề cập đến các sự kiện hư cấu theo cách khiến chúng có vẻ khả thi. Điều này là và nên như vậy, đặc biệt là trong tường dụ trong Hành trình đến trung tâm trái đất, của Jules Verne, một sự thật đã được nêu ra mà chưa được chứng minh, nhưng nhiều người đã tin là sự thật, nhờ vào lượng dữ liệu khoa học được tiết chuyện thứ hai góp phần chính xác vào sự tương đồng giống với thực tế của các câu chuyện rằng các lập luận xác đáng được sử dụng trong thực cảmDù đã nói ở những dòng trước, nhưng cần lưu ý đây là một đặc trưng của văn học mục tiêu là nảy sinh cảm thức và các nguồn được thể hiện trong một văn bản, nhằm mục đích để người đọc tham gia vào quá trình đọc theo cách mà anh ta "sống" trong thế giới do tác giả tạo ra và "cảm nhận" những gì mà các nhân vật liên quan trải qua trong suốt lịch ngữ cũng góp phần vào điều này vì có nhiều từ liên quan đến cảm giác và / hoặc cảm xúc của con người nóng, lạnh, chóng mặt, sợ hãi, tò mò, học là nghệ thuậtNhư đã nêu khi đề cập đến định nghĩa được cung cấp bởi Học viện Hoàng gia Tây Ban Nha, văn học được coi là nghệ thuật gắn liền với việc diễn đạt bằng lời nói, dù bằng miệng hay bằng văn bản. Cách giải thích này là do ngay từ đầu - mặc dù quan niệm đó vẫn còn thịnh hành - văn học được cho là sáng tác của các bài thơ để lớn, những bài thơ này thường ở dạng câu thơ được phát triển để dành riêng cho các vị thần hoặc như một bài thơ cho các anh hùng hoặc các vị vua đã ngã xuống. Vì vậy, sự trang nghiêm và tôn nghiêm của họ đã tạo cho họ phẩm chất nghệ thuật nay đặc trưng nghệ thuật này của văn học thịnh hành. Trên thực tế, nó không thể chỉ được liên kết với thơ, bài văn hay tiểu thuyết, mà mỗi văn bản được làm ra có thể được coi là nghệ thuật, miễn là sự chuẩn bị của nó hướng đến sự xuất loại văn họcTrong số các loại hình văn học tồn tại, nổi bật sauVăn học truyền miệngNó là lâu đời nhất và được liên kết trực tiếp với các tín ngưỡng phổ biến của các dân tộc. Thông qua đó, các cư dân đã truyền kiến ​​thức và phong tục của họ cho đồng bào của họ, thông qua các câu chuyện, truyền thuyết và thần học viếtĐiều này đến khoảng năm 3000 a. C, ở Lưỡng Hà. Lúc đầu, nó được phát triển trên các viên đất sét, trên tường và đá, sau đó trên giấy cói và sau đó là trên giấy và các phương tiện điện tử. Nó bao gồm một số lượng lớn các thể loại văn học viễn tưởngVăn học này là một phần của thể loại tự sự và trong đó nhà văn bao gồm các sự kiện từ thực tế hàng ngày hoặc bịa ra. Điều thường xảy ra là những người sáng tạo ra thể loại văn học này đi trước thời gian và đến để mô tả các sự kiện xảy ra sau đó. Một trường hợp rõ ràng được đại diện bởi Jules Verne và các tác phẩm của học phi hư cấuLoại văn này cũng thuộc thể loại tự sự, chỉ khác là nó có chủ đề là các sự kiện có thật hoặc có chứng thực. Thông thường chúng được sử dụng trong quá trình phát triển tiểu thuyết truyền thống và cả những câu chuyện. Các sự kiện được đưa vào các văn bản này có thể kiểm chứng được, điều này mang lại uy tín lớn hơn cho tác học tuyệt vờiNó thường trình bày các sự kiện và những sinh vật siêu nhiên có thể phát triển trong thế giới đã biết hoặc thế giới được phát minh. Trong loại văn bản này, thuộc thể loại tự sự mặc dù chúng cũng có thể được nhìn thấy trong thơ, nhà văn đóng vai trò như một vị thần sáng tạo ra các sự kiện, bản thể và sự loại văn họcCó một số cách để bao hàm các thể loại văn học, trong một số trường hợp bị nhầm lẫn với các thể loại phụ. Phân loại đầu tiên - và là một trong những phân loại được giới văn học nói chung chấp nhận - là phân loại do Aristotle 384 TCN -322 TCN đề xuất trong tác phẩm của ông đó nó xác định rằng các thể loại văn học được phân biệt là tự sự, trữ tình và thuậtVào thời của Aristotle, nó được biết đến như một thể loại sử thi. Khi đó anh kể lại những sự kiện huyền thoại bịa ra hoặc có thật mà anh kết hợp với tường thuật, đối thoại và miêu nay, tường thuật được đặc trưng như một thể loại văn bản, trong đó người kể trình bày sự việc dưới dạng văn xuôi. Đổi lại, nó có một số nhánh phụ như tiểu thuyết hoặc truyện bài hátThể loại này là của bài thơ, một hình thức biểu đạt trong đó cảm xúc có liên quan một cách tượng trưng. Cách thể hiện của tác giả thường có trọng lượng hơn bản thân sự việc, dựa vào các nguồn tài liệu văn học khác nhau để tô điểm cho bài thức thông thường của văn bản là câu thơ, mặc dù văn xuôi cũng có thể được sử dụng trong một số trường hợp. Một số nhánh phụ trữ tình là bài hát, bài hát, thánh ca, elegy hoặc trào tínhNguồn gốc của nó nằm ở Hy Lạp cổ đại, được dựng lên như một sự sùng bái các vị thần. Đối thoại là động cơ của thể loại này, thường cho thấy sự thiếu vắng người kể chuyện, như đã xảy ra trong rạp Aristotle, thể loại văn học này bao gồm bi kịch, hài kịch, chính kịch và melodrama. Hiện tại, các nhánh phụ khác đã được thêm vào như trò hề, bi kịch hoặc tác phẩm giáo hợp của thể loại giáo khoaKhông có sự nhất trí nào về việc liệu thể loại giáo khoa có thể là thể loại văn học thứ tư hay không. Mục đích của nó là phổ biến và giảng dạy, với các bài tiểu luận, đối thoại, nói trước công chúng hoặc giảng dạy chung là các thể loại phụ năng của văn họcChức năng thẩm mỹKhía cạnh này đề cập đến vẻ đẹp mà tác giả có thể phát triển trong văn bản. Chất lượng này thường là điểm thu hút quan trọng nhất của tác năng xã hộiNó đề cập đến thực tế là các văn bản văn học thường là bằng chứng về các sự kiện lịch sử, lý tưởng và các nhân vật nổi bật trong các thời kỳ khác nhau nơi chúng được tạo năng văn hóaChức năng này đề cập đến thực tế là văn học đóng vai trò là cầu nối để truyền đạt kiến ​​thức, phong tục và văn hóa của các dân năng âm nhạcMặc dù nghe có vẻ phi lý, nhưng văn học có một loạt các yếu tố mà khi được tổ chức hợp lý sẽ tạo ra tính âm nhạc. Khi đạt được điều này, nó tạo cảm giác dễ chịu cho những người đánh giá cao văn năng này không chỉ là đặc trưng của thơ mà có thể thấy ở bất kỳ thể loại nào, điều cần thiết là người viết phải sử dụng tốt ngôn ngữ và nguồn tài liệu của năng tình cảmĐiều này đề cập đến cảm xúc mà người viết có thể đạt được khi viết một văn bản. Mọi thứ sẽ phụ thuộc vào phẩm chất mà tác giả sở hữu, vào cách anh ta xử lý chủ đề và ngôn ngữ tốt như thế tượng trưngPhần này đề cập đến thông điệp cụ thể mà tác giả muốn truyền tải dựa trên việc sử dụng các biểu tượng để củng cố nó. Chức năng này gắn liền trực tiếp với thi pháp, vì vậy hình tượng văn học đóng một vai trò quan trọng trong năng tránh xaĐiều này đề cập đến việc cả tác giả khi viết và người đọc khi diễn giải hay người nghe tác phẩm văn học khi nó được thuật lại đều có thể thoát ly khỏi hiện thực mà họ đang sống. Đúng vậy, các tác phẩm văn học nhằm mục đích trốn tránh trong khoảnh khắc những tình huống đang năng cam kếtChức năng này đề cập đến vai trò của tác giả khi viết một tác phẩm và trách nhiệm của anh ta trước độc giả và câu chuyện của mình. Cần phải hiểu rằng mỗi tác phẩm văn học đều có một thông điệp sẽ tác động đến những người đọc nó, cả tốt hơn và xấu hơn. Ở đây nói lên tầm quan trọng của cam kết mà người viết giả định khi tạo ra điển của văn họcTác giả ẩn danh- Nghìn lẻ một Sử thi Conan Doyle- Dấu hiệu của Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Dickens- Nhiều câu chuyện khác David Copperfield- Bài hát Giáng Hy vọng Oliver defoe- Robinson Allan Poe- Nhiều câu chuyện khác cháy Edgar- Tarzan của loài salgari- Áo corsair màu Nữ hoàng vùng Những bí ẩn của Rừng Những con hổ của Mompracem hoặc Sandokán.- Sandokan, vua của biển Orwell- Nổi loạn ở nông Flaubert- Bà Melville- Bartleby, thư Austen- Kiêu ngạo và thành Cảm giác và sự nhạy Swift- Chuyến đi của Ramon Jimenez- Platero và Verne– Xung quanh Mặt Năm tuần trong quả bóng Chủ nhân của thế Vong quanh thê giơi trong 80 Hai vạn giải đấu dưới Hành trình đến Trung tâm Trái Tolstoy- Ana Cái chết của Ivan Twain- Hoàng tử và Kẻ ăn Cuộc phiêu lưu của Huckleberry Cuộc phiêu lưu của Tom Wilde- Nhiều câu chuyện khác Tội ác của Lãnh chúa Arthur Bóng ma của Bức tranh của Dorian Louis Stevenson- Trường hợp kỳ lạ của bác sĩ Jekyll và ông Mũi tên Hòn đảo của kho Nhiều câu chuyện khác Irving- Truyền thuyết về Sleepy Rip Van giới thiệu45 tác phẩm văn học kinh điển tuyệt vời để đọc miễn phí. 2017. N / A Niềm vui khi đọc. Được khôi phục từ Tây Ban Nha Wikipedia. Được khôi phục từ F. 2010. Chức năng của văn học. Guatemala Văn học Phổ thông. Đã khôi phục từ nghĩa của văn học. 2019. N / A Ý nghĩa. Phục hồi từ Ý M. 2019. Khái niệm văn học. N / A Khái niệm. Từ. Đã khôi phục từ LỊCH SỬ VĂN HỌC LÀ GÌ ? Người ta thường gọi khoa học về văn học là lịch sử văn học. Tên gọi này phù hợp với chính nội dung cơ bản của ngành học được bắt nguồn từ bản chất đối tượng của nó văn học nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của các dân tộc trên thế giới. Văn học nghệ thuật của mỗi dân tộc tự phát triển một cách lịch sử, trong đó xuất hiện tất cả những cái mới và những tác phẩm mới mà với mỗi thời đại lịch sử lại có những đặc điểm riêng biệt. Khoa học về văn học đòi hỏi nghiên cứu sự phát triển lịch sử của các nền văn học dân tộc. Dĩ nhiên nó được bắt đầu từ sự thu thập, ghi chép những sự kiện phát triển văn học dân tộc, từ sự tạo dựngbiểu đồ thống kê sự kiện. Sau đó nó phải tiến hành nhiệm vụ phức tạp hơn phân loại lịch sử các hiện tượng văn học nghệ thuật, phát hiện trong đó những đặc điểm, những biến thể có ở lịch sử văn học của dân tộc này hay dân tộc khác. Việc phân chia văn học thành loại, thể trong nghĩa chung và rộng nhất của những từ này đòi hỏi tạo dựng, soạn thảo những khái niệm tổng quát phù hợp. Trong thành phần của khoa học về văn học, khoa học về lịch sử của nó từ lâu đã xuất hiện một bộ môn lý thuyết riêng mà từ thời Arixtốt thường gọi là Thi pháp. Đó không phải là một khoa học riêng biệt mà là một bộ phận của khoa học, tất yếu cần phải là thành phần giúp cho việc phân chia cơ bản khoa học về văn học lịch sử văn học của các dân tộc khác nhau và các thời đại khác nhau của sự phát triển của chúng và cần phải được tạo dựng vì lợi ích của nó. Trong khi tạo nên những khái niệm bao quát của mình thi pháp không thể không tính đến ở trong đó những biến đổi lịch sử diễn ra trong văn học và chính nó hiện ra như thi pháp lịch sử. Nhưng, giống như các khoa học khác, khoa học về văn học không thể tự hạn chế ở việc hoàn thành những nhiệm vụ phân loại và thống kê sự kiện. Nếu như những định kiến tư tưởng của chính các nhà khoa học cản trở điều đó thì nó vẫn không thể không hướng tới giải quyết những nhiệm vụ quan trọng và phức tạp hơn nhiều làm sáng tỏtính quy luậtphát triển lịch sử của văn học các dân tộc khác nhau trên thế giới và thông qua đó mà giải thích sự phát triển ấy. Giải thích những nhiệm vụ đó đòi hỏi những sự khái quát lý luận rộng lớn hơn nhiều. Văn học nghệ thuật tự phát triển một cách lịch sử, tất nhiên không phải vì nó, không phải từ nó, không mang tính nội tại. Là ý thức xã hội không trực tiếp, đặc thù của các dân tộc khác nhau, là lĩnh vực đặc thù văn học tinh thần của các dân tộc, văn học nghệ thuật biến đổi đồng thời với những đổi thay của đời sống dân tộc và gắn bó với chúng. Để hiểu những quan hệ ấy cần có lý luận phù hợp mang ý nghĩa phương pháp luận. Trước hết, việc giải quyết vấn đề về bản chất văn học nghệ thuật như là một loại hình nghệ thuật, về những đặc điểm riêng biệt của nó luôn luôn là cơ sở phương pháp luận của khoa học văn học. Phương pháp luận cần chỉ rõ mối quan hệ của phát triển văn học với phát triển lịch sử của xã hội dân tộc này hay dân tộc khác không phải là một sự ngẫu nhiên, bên ngoài, mà bắt nguồn từ chính bản thân văn học nghệ thuật. Giải quyết những vấn đề thi tháp và phương pháp luận văn học đòi hỏi những công trình tư duy lý thuyết, thường rất trừu tượng. Cái mức độ trừu tượng ấy mới nhìn qua thật to lớn. Nó hướng tới việc xây dựng một hệ thống khái niệm tổng quát rất thiết yếu đối với việc tạo dựng lịch sử các nền văn học dân tộc những thời đại khác nhau mà thiếu nó thì bản thân lịch sử ấy không thể cấu tạo ở một trình độ khoa học cao nào đó. Thời gian gần đây thỉnh thoảng có thể nghe trong giới nghiên cứu, phê bình ý kiến cho rằng hình như việc nghiên cứu một hệ thống trừu tượng những khái niệm nghiên cứu văn học là không cần thiết, kinh viện, siêu hình. Ý kiến ấy có thể là kết quả của sự thay đổi nhanh chóng và sự phê phán gay gắt những lý thuyết phương pháp luận khác nhau trong ngành nghiên cứu văn học Xô Viết những năm 1920 1940. Nó làm cho người ta sợ hãi tranh luận những lý thuyết này khác. Nhưng sự xung đột những ý kiến đó là điều kiện tất yếu thúc đẩy khoa học tiến lên và không có sự nguy hiểm nào ở đó. Là bộ phận cấu thành chung của những sự phân chia có tính lịch sử, được trang bị bởi những khái niệm nghiên cứu thi pháp và phương pháp luận, khoa học về văn học là một hệ thống nhận thức khoa học phức tạp và phân ngành. Để biểu thị hệ thống này trong sự thống nhất tất cả những sự phân chia có tính lịch sử và những nguyên lý lý luận của nó, khoảng mươi năm lại đây ở chúng ta đã xuất hiện từ nghiên cứu văn học vay mượn từ tiếng Đức Literaturwissenschaft, tức là khoa học về văn học. Nhưng chớ bao giờ nên quên rằng nghiên cứu văn học đó là khoa họcxã hội lịch sử,trong tất cả các bộ phận của mình nó cần phải xuyên thấm nguyên tắc chủ nghĩa lịch sử. Đang tồn tại và có thể tồn tại chỉ một khoa học về văn học việc nghiên cứu văn học mang tính lịch sử từ lý luận của chính nó; nó có thể mang lại sự cống hiến to lớn vào văn hóa tinh thần tiến bộ toàn nhân loại. 2 Ý nghĩa của những vấn đề lịch sử chung của khoa học về văn học nhiều khi trượt khỏi sự chú ý của chính các nhà nghiên cứu văn học chuyên giải quyết những nhiệm vụ bổ trợ và riêng biệt. Sự chuyên môn hóa trong lĩnh vực tập hợp và miêu tả các sự kiện liên quan với lịch sử văn học nghệ thuật các dân tộc khác nhau góp phần to lớn nhất vào vấn đề đó. Việc làm sáng tỏ các vấn đề chẳng hạn như việc các tác phẩm văn học nghệ thuật đã được sáng tác tại những thời điểm nào trong hoạt động sáng tạo của các tác giả của chúng vốn thường có những dị bản và hiệu đính khác nhau, hay việc các tác phẩm sau đó đã được in và sao chép rất nhiều đôi lúc thiếu cả tên tác giả, đã bị xuyên tạc từ phía những người chép lại và bởi sự hiệu đính xuất bản, bởi sự kiểm duyệt mà thường là thay đổi văn bản của chúng, hoặc như việc các tác phẩm đã được công chúng các dân tộc xa xôi tiếp nhận, đã trở thành đối tượng của những buổi công diễn, đã được đánh giá, phê bình, nhận xét của người nghe, người xem mà không hiếm trường hợp những nhận xét phê bình ấy của độc giả các nước khác đã dịch ra tiếng nước ngoài là việc minh định và chỉ ra chính xác tất cả những điều đó tự nó đã lý giải hết thảy các quá trình riêng biệt ấy. Đó là một công việc rất phức tạp, tỉ mỉ, tốn nhiều công sức. Nó đòi hỏi giải quyết rất nhiều vấn đề thuộc về sưu tầm, tiểu sử học, văn bản học, bình chú Công việc này hoàn toàn cần thiết. Kết quả của nó dần dần tạo ra cơ sở dữ liệu của khoa học về văn học như đã nói, mà thiếu nó thì không có nền tảng vững chắc và có thể dẫn đến sự khái quát phiến diện hoặc thậm chí sai lầm. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã để hết tâm trí vào việc thực hiện những nhiệm vụ lập biểu đồ dữ liệu, cống hiến toàn bộ sức lực và sự quan tâm của mình xem đó như là tiết diện của mình. Trong phạm vi này thường tạo nên những nhà khoa học lớn và nghiêm túc đem lại trong lĩnh vực của mình sự uyên bác sâu rộng làm phong phú khoa học văn học bằng những khám phá thực sự rất quan trọng. Tuy nhiên, với tất cả sự thiết yếu và tầm quan trọng to lớn của mình, toàn bộ điều đó chỉ làbậc đầu tiêncủa việc nghiên cứu văn học nghệ thuật. Nhưng khoa học văn học từ lâu đã không thể tự thỏa mãn với điều ấy. Và khi những nhà nghiên cứu văn học nào đó tự bằng lòng điều ấy, toàn tâm toàn ý chỉ đi vào tìm kiếm dữ liệu thì việc đấy lại hạn chế chân trời khoa học và chứa đựng nguy hiểm lớn đối với tư duy khoa học của họ. Điều nguy hiểm đó là ở chỗ một số nhà nghiên cứu chỉ trên bình diện biểu đồ sự kiện dữ liệu thường phát triển và củng cố một quan niệm thích hợp với đối tượng khoa học của mình. Có thể gọi tên nó là quan niệm cá thể hóa đối với sáng tác và cá tính sáng tạo của các nhà văn. Điều đó tự nó hoàn toàn chính đáng nhưng không đầy đủ. Nó cần hàm chứa trong mình khả năng của một quan niệm khác có tính chủ yếu, bao quát trở thành nhiệm vụ của mình hướng cái riêng đến cáccái chung. Vấn đề là ở chỗ các nhà khoa học của lát cắt biểu đồ sự kiện thường xuyên có quan hệ với những hiện tượng cá biệt của sáng tạo nghệ thuật và với những sự kiện của các nhà văn riêng lẻ. Vì vậy ở họ thường xuất hiện một cách tự phát quan niệm cho rằng tất cả đặc thù của các tác phẩm của nhà văn này hay nhà văn khác được tạo nên bởi bản tính riêng của tư duy nghệ thuật và tài năng anh ta, mà bản tính ấy đã xuất hiện và phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh riêng biệt của đời sống và sáng tác của nhà văn. Và thậm chí khi bị cuốn hút bởi các sự kiện của những mối quan hệ xã hội, văn học riêng tư của các nhà văn đối với tư duy sáng tạo của họ thì các nhà nghiên cứu ấy thường xem xét chúng phần lớn chỉ theo bình diện cá biệt. Theo quan niệm của họ thì nhà văn lớn, tài năng có thể trải qua những ảnh hưởng nhất thời về văn học và tư tưởng khác trong khi vẫn giữ nguyên tất cả tính sáng tạo duy nhất, rõ ràng không hề mang những đặc điểm chung nào xuất hiện một cách lịch sử của tư duy nghệ thuật và xã hội. Với quan điểm cá tính hóa đối với sự sáng tác của nhà văn thì các tác phẩm riêng biệt của họ cũng thường được xem xét giống như vậy. Các hành động và quan hệ của các nhân vật trong các tác phẩm kịch và tự sự được hiểu như sự tùy thuộc vào ý chí, chủ định, xúc cảm cá nhân các nhà văn tương tự như điều đó thường xảy ra trong thực tế với những con người có thực. Mỗi một nhân vật hành động ứng xử thế này hay thế khác phù hợp với những đặc điểm của tính cách cá nhân và vì vậy hoàn toàn đáp ứng với chính bản thân. Có thể khen ngợi hoặc phê phán nó về điều đó như một người đang sống và có thể cho nó một tính cách phù hợp vì điều đó. Bằng việc mô tả tính cách các nhân vật và thuật lại các cốt truyện các nhà văn tự tạo ra ít hoặc nhiều mặt cắt biểu đồ sự kiện, không tính đến những tình huống mà trong các hành động và quan hệ của các nhân vật tác phẩm tự biểu hiện không chỉ những bản tính riêng của chúng mà còn cả những tính cách xã hội và sự hiểu biết tư tưởng cảm xúc mới nhất từ phía tác giả. Ngay cả những nguyên tắc mô tả nghệ thuật vốn có ở những tác phẩm của từng nhà văn riêng lẻ có thể được nhìn nhận theo một quan niệm cho rằng toàn bộ những gì phụ thuộc vào các đặc điểm của tài năng sáng tạo của nhà văn giống như phong cách riêng của anh ta. Cách hiểu như vậy loại trừ phong cách văn học khỏi bất kỳ tính quy luật lịch sử nào. Những sự khác nhau và đổi thay các phong cách trong văn học của các thời đại được giải thích theo cách hiểu đó chỉ là sự biểu hiện và thay đổi của những cá tính sáng tạo duy nhất khác nhau. Và thế là văn học không có bất kỳ quy luật mang tính lịch sử phong cách nào! Ở bình diện này có thể trình bày toàn bộ lịch sử văn học của dân tộc này hay dân tộc khác. Do đó có thể xuất hiện những tác phẩm thậm chí nhiều tập chứa đựng trong đó những bản tổng quan biểu đồ sự kiện đời sống xã hội văn học các thời đại khác nhau và tiếp theo sau là những đặc điểm biểu đồ sự kiện các tiểu sử, các thời kỳ sáng tác, các nhân vật, cốt truyện của những tác phẩm quan trọng nhất và sau đó là kiểu cách văn chương riêng của các nhà văn sống cùng thời đại. Những cuốn sách như vậy thường chứa đựng không ít nhữngtư liệurất có ích nhưngý nghĩa khái quátvề quá trình văn học và các giai đoạn khác nhau của nó có thể bị hoàn toàn tước bỏ. 3 Nghiên cứu văn học tiến lên trình độ cao hơn khi nó tạo đượcmột hệ thống những khái niệm khoa họcmà với sự giúp đỡ của chúng có thể thấy được trong những bản sắc riêng các tác phẩm của các nhà văn đơn lẻ một số đặc điểm chung xuất hiện có tính lịch sử và có thể lặp lại trong sáng tác của các nhà văn khác. Với các khái niệm ấy, nghiên cứu văn học có thể tìm các quy luật phát triển lịch sử của các nền văn học dân tộc khác nhau. Những đặc điểm chung của các tác phẩm văn học mà từ đó ánh xạ sang những khái niệm của chúng có thể chia làm hai loại. Mỗi loại là những bản chất chung có thể được hiện ra theo cách khác nhau trong các tác phẩm có liên quan với các thời đại khác nhau của phát triển lịch sử của văn học dân tộc này hay dân tộc khác và với những trào lưu, khuynh hướng khác nhau. Những đặc tính chung đó của các tác phẩm văn học nghệ thuật và những khái niệm phản ánh chúng thường được gọi là những đặc trưng mang tínhloại hìnhva những khái niệm tương ứng. Nhưng lại có những đặc tính khác trong khi xuất hiện ở các tác phẩm liên quan tới một thời kỳ lịch sử nhất định hoặc chỉ với một trào lưu văn học nào đó không lặp lại có tính lịch sử ra khỏi giới hạn của thời đại ấy của sự phát triển văn học dân tộc và của trào lưu văn học ấy. Những đặc tính chung đó và những khái niệm phản ánh chúng có thể gọi là những đặc tínhlịch sử cụ thểvà những khái niệm tương ứng. Có thể xem các trào lưu văn học thường được gọi như chủ nghĩa cổ điển Nga hay chủ nghĩa lãng mạn Pháp là những hiện tượng lịch sử cụ thể cơ bản. Trong các tác phẩm của những nhà văn thuộc vào một trào lưu văn học nhất định, xuất hiện ở một thời đại lịch sử nhất định trong một nền văn học dân tộc nào đó rõ ràng là có những đặc điểm chung khác biệt với những tác phẩm của các nhà văn thuộc những trào lưu khác và thời đại khác. Và những đặc điểm lịch sử không lặp lại ấy của nội dung các tác phẩm của một trào lưu nhất định tạo ra tính cụ thể lịch sử của tất cả các đặc tính và yếu tố của các tác phẩm ấy mà trong những tính chất chung của mình đã có thể tồn tại sớm hơn trong những tác phẩm của các tác phẩm khác với một nội dung khác và có thể sẽ được lặp lại trong những thời đại sau. Nói cách khác, những đặc điểm lịch sử cụ thể của văn học quy định sự xuất hiện và các sự thay đổi có tính lịch sử những đặc tính loại hình của nó. Thoạt nhìn thì những đặc trưng loại hình học của các tác phẩm chỉ là các đặc điểm củahình thứcnghệ thuật của chúng. Những đặc điểm duy nhất có tính lịch sử của nội dung khi được biểu đạt trong các phương tiện và thủ pháp phản ánh đời sống phù hợp với chúng, mỗi một lần đều bổ sung cho chúng tính cụ thể lịch sử của mình, mặc dù chính những phương tiện và thủ pháp ấy trong đặc tính chung của mình có thể lặp lại một cách lịch sử trong những tác phẩm của các trào lưu và thời đại khác trong khi biểu đạt những đặc điểm khác của nội dung nghệ thuật. Điều đó liên quan trước hếtcốt truyệnnhững tác phẩm kịch và tự sự. Cốt truyện của từng tác phẩm riêng lẻ đó là quá trình miêu tả trong tác phẩm những sự kiện, mỗi một lần nhiều hay ít mới mẻ, cụ thể, riêng biệt hiện ra nhờ những quan hệ và hành động của tất cả nhân vật hành động, được nhà văn dùng làm phương tiện khám phá những đặc điểm của các tính cách xã hội của chúng và đồng thời là phương tiện bộc lộ suy nghĩ tư tưởng cảm xúc của những đặc điểm ấy của nhà văn. Vì vậy cốt truyện là phương tiện quan trọng nhất của hình thức tác phẩm. Nhưng những quan hệ riêng biệt của các nhân vật hành động thường chứa ở trong mình một số đặc điểm chung có thể lặp lại trong những điều kiện lịch sử xã hội khác. Nhiều cốt truyện của các tác phẩm được xây dựng chẳng hạn, trên cái gọi là tam giác tình yêu của các nhân vật nhưng mà khi lặp lại thì lại nhằm biểu đạt một nội dung tư tưởng khác ở các nhà văn của các thời đại và trào lưu khác nhau. Có thể nói chẳng có gì giống nhau về tất cả các phương tiện và thành phần khác của hình thức, ví dụ như vềcấu trúc các hình tượngtrong những tác phẩm tự sự. Những hình tượng nhân vật luôn được xây dựng trong các tác phẩm loại này từ những chi tiết khác nhau của tính tạo hình đồ vật. Nói cách khác chúng luôn luôn hàm chứa trong mình sự lựa chọn và tương quan nhất định của những chi tiết hành động, lời nói, xúc cảm, ngoại hình của các nhân vật trong quan hệ với những chi tiết của hoàn cảnh xung quanh chúng. Ở những nhà văn của các thời đại và trào lưu khác nhau mối quan hệ ấy thường khác nhau và mỗi lần đều không tái hiện một cách lịch sử bởi vì nó được dùng làm phương tiện biểu hiện của nội dung tư tưởng khác biệt theo đặc thù của mình. Nhưng tự nó trong những đặc tính chung của mình, các chân dung nhân vật, những đối thoại của chúng, sự mô tả những cảm xúc của chúng được lặp lại một cách lịch sử theo cái kiểu là một đặc điểm loại hình của hình thức nghệ thuật. Những đặc tính loại hình của các phương diện và nhân tố khác nhau củangôn từnghệ thuật được thấy rõ dễ hơn. Có thể tìm thấy trong các tác phẩm của phần lớn các tác giả những thời đại và trào lưu văn học khác nhau một số dạng giống nhau của lời lẽ bóng gió, những dạng thủ pháp ngữ điệu cú pháp tương tự nhau và sự vận dụng những tiết tất nhịp điệu hay những kiểu đoạn thơ giống nhau. Nhưng mỗi lần biểu đạt nội dung tư tưởng cảm xúc riêng biệt thì tất cả những đặc tính lặp lại một cách lịch sử ấy của hình thức ngôn từ các tác phẩm tiếp nhận được cái ý nghĩa và âm vang mới không lặp lại có tính lịch sử. Nghiên cứu những khái niệm loại hình học, phản ánh những phương diện và yếu tố khác nhau của hình thức tác phẩm văn học nghệ thuật là nhiệm vụ một bộ phận của thi pháp như một bộ môn lý thuyết nằm trong thành phần chung của nghiên cứu văn học. Có thể gọi nó là thi pháp hình thức. Nhưng không nên nghĩ rằng chỉ có những đặc tính hình thức nghệ thuật của chúng mới là các đặc trưng mang tính loại hình của tác phẩm văn học. Cả những phương diện khác nhau củanội dungnghệ thuật của chúng cũng có thể tự tái diễn một cách lịch sử. Như vậy, trước hết là những đặc điểm nội dung làm phân biệt các tác phẩm của các loại văn học cơ bản tự sự, trữ tình, kịch. Tất nhiên đang tồn tại những khác nhau to lớn trong các nguyên tắc và thủ pháp tái hiện đời sống trong từng loại của chúng. Tự sự luôn là sự trần thuật chủ yếu về những sự kiện diễn ra trong đời sống của những nhân vật hành động. Còn trữ tình thì phần lớn trường hợp là suy ngẫm xúc cảm về đời sống hay là sự mô tả cảm xúc. Tự sự luôn luôn mang cốt truyện còn trữ tình thường thiếu cốt truyện. Để thể hiện nội dung trong tự sự thì các chi tiết tạo hình cụ thể như các tình tiết hành động, nói năng, chân dung, xúc cảm của nhà văn có ý nghĩa quyết định, cơ bản. Những chi tiết ấy trở thành chất liệu cấu tạo hình tượng tác phẩm và nhà văn trần thuật về chúng. Trong trữ tình thì tính tạo hình cụ thể thường phát triển yếu hơn và những đặc điểm của ngôn ngữ miêu tả và trầm tư lại có ý nghĩa quyết định việc biểu đạt nội dung. Chính vì thế mà ngôn ngữ nghệ thuật trong trữ tình thường là phương tiện truyền cảm tinh tế hơn nhiều so với tự sự. Trữ tình hầu như luôn luôn hướng tới tổ chức thi ca của ngôn ngữ, hoàn toàn thường thỏa mãn trong quy mô nhỏ của văn bản tác phẩm. Còn tự sự với tính cốt truyện và tính tạo hình cụ thể mở rộng, hiển nhiên là tìm đến những chiều kích lớn của trần thuật được thực hiện một cách hiệu quả như nhau trong thơ ca và văn xuôi. Ở kịch có những đặc điểm chung cơ bản với tự sự. Đó là sự có mặt của các nhân vật hành động, sự phát triển hành động trong những điều kiện địa điểm và thời gian nhất định, là các khả năng như nhau của chất văn xuôi và chất thơ. Nhưng những tác phẩm kịch được dùng chủ yếu để dựng vở trên sân khấu, nhằm thống nhất nghệ thuật ngôn từ với nghệ thuật biểu diễn, có những nguyên tắc tái hiện cuộc sống của mình. Trong kịch không có sự mô tả và trần thuật của tác giả và chỉ hoàn toàn xây dựng bằng đối thoại và độc thoại của các nhân vật. Bị hạn chế thời gian của diễn xuất sân khấu, các đối thoại và độc thoại cần phải phù hợp với thời gian trong khối lượng lời của mình. Tất cả đấy là đặc điểm loại hình củahình thứccác chủng loại văn học. Nhưng chúng được tạo dựng trong các tác phẩm của các nhà văn những thời đại và trào lưu văn học khác nhau bởi những đặc điểm loại hình mang tính nội dung. Tự sự và kịch là một phía và trữ tình ở phía khác, khác biệt nhau trước hết ở trong một phương diện xác định nào đó của nội dung. Phương diện đó tất nhiên không thể là hệ đề tài của các tác phẩm nghệ thuật, tức là những tính cách và quan hệ xã hội lịch sử cụ thể đã trở thành đối tượng nhận thức nghệ thuật. Một số tính cách này hay tính cách khác có thể được tái hiện mang tính tự sự, tính kịch hay tính trữ tình. Còn ở mức độ nhỏ hơn của phương diện nội dung nằm trong cơ sở của những chủng loại văn học khác nhau có thể là toàn bộ những vấn đề của tác phẩm tức là những phương diện các tính cách và quan hệ xã hội được miêu tả mà các nhà văn của các thời đại và trào lưu khác nhau xem chúng là cốt yếu hơn cả và họ lựa chọn, khuếch đại, phát triển chúng trong tác phẩm của mình. Những khía cạnh khác nhau của các tính cách xã hội được miêu tả cũng giống thế là phương diện các tính cách xã hội có thể trở thành vấn đề cơ bản trong cả ba chủng loại văn học. Chúng ta nhớ ví dụ như Những anh hùng thời đại chúng ta, Vũ hội hóa trang và Khúc bi ca của Lécmôngtốp. Nếu như tất cả những tính cách xã hội khác nhau một cách lịch sử, và những mối quan hệ của chúng có thể chứa trong mình những mặt giống nhau được lặp lại trong những đặc điểm chung của chúng, ví như có thể phản ánh chủ yếu từ phương diện những quan hệ chính trị hoặc đời sống đạo đức của chúng hay từ phương diện ý nghĩa triết học của chúng ; nếu như nhà văn các thời đại và trào lưu khác nhau có thể thống nhất với nhau trong những đặc điểm chung lặp lại một cách lịch sử ấy của toàn bộ các vấn đề của mình thì tất cả điều đó sẽ không có một quan hệ nào hết đến vấn đề về các đặc điểm nội dung của chủng loại văn học. Phương diện thứ ba của nội dung các tác phẩm văn học là mối quan hệ tư tưởng cảm xúc của các nhà văn với những tính cách xã hội mà họ nhận thức. Mối quan hệ ấy thường rất có ý nghĩa và hiệu lực trở thành cảm hứng của tác phẩm trong ý nghĩa ấy, đồng thời không có quan hệ trực tiếp với vấn đề đó. Sự hưng phấn cảm xúc của tác phẩm tự có những sự khác biệt mà trong những đặc tính chung của mình chúng tự tái hiện một cách lịch sử trong sáng tác của các nhà văn ở các thời đại và trào lưu khác nhau. Nó có thể trở thành cảm hứng anh hùng và lãng mạn, trào phúng và châm biếm Nhưng trong tất cả những biến tướng được lặp lại của mình nó có thể trong chừng mực giống nhau trở thành biểu hiện trong các tác phẩm tự sự, kịch, trữ tình Hêghen trong Mỹ học của mình và sau đó Bêlinxki trong bài báo Phân chia thể loại thơ ca đã xác định sự khác nhau giữa tự sự, trữ tình và kịch từ cái nhìn vị thế chủ đạo của nguyên tắccái khách quanhaycái chủ quantrong đó. Nhưng Hêghen đã xây dựng toàn bộ lý luận các loại văn học của mình trên tư liệu văn học Hy Lạp cổ đại, trên những sự kiện thời hưng thịnh lần lượt của sáng tác tự sự, trữ tình, kịch của người Hy Lạp cổ đại. Và đối với ông thì chỉ có một trong những thể loại anh hùng ca sử thi nhân dân như anh hùng ca Hôme mới là kiểu mẫu và thước đo toàn bộ chủng loại tự sự sử thi. Vì vậy trongảo ảnhtính khách quan của trần thuật được xem là bản chất có thật của Iliat và Ôđixê, Hêghen đã nhìn thấy tính khách quan hiện thực của tác phẩm tự sự nói chung và đã theo đó mà phân biệt toàn bộ chủng loại tự sự văn học với chủng loại trữ tình như là cái chủ quan và xem kịch như là sự tổng hợp của chúng. Thật ra thì cả ba chủng loại văn học đều chứa đựng trong mình sự thống nhất nhận thức của tác giả về khách thể tức là sự phản ánh những bản chất đặc trưng vật chất hay tinh thần của hiện thực và về chủ thể tức là sự hiểu biết và đánh giá mang tính tư tưởng từ phía tác giả. Trong các tác phẩm của cả ba loại văn học luôn có thể tìm thấy cả ba phương diện cụ thể nội dung của chúng. Và có nghĩa là vấn đề về những khác biệt có nội dung sâu sắc của ba loại văn học không thể giải quyết bằng con đường mà Hêghen và Bêlinxki đã đưa ra. Cho đến nay vấn đề này vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng nhất định mặc dù đã tưởng là ai cũng rõ như thế nào là tự sự, trữ tình, kịch nói chung. Trong nghiên cứu văn học hiện đại vấn đề về cácthể loạivăn học còn khai thác ít hơn nhiều. Và khai thác nó bằng con đường riêng của nghiên cứu, khái quát hình thức tất nhiên là không thể được. Không thể xem các thể loại chỉ là hiện tượng hình thức loại hình. Hình thức tác phẩm văn học được tạo nên bởi tất cả những đặc điểm và các phương diện nội dung của nó trong sự thống nhất của chúng và trước hết là bởi những đặc điểm lịch sử cụ thể không lặp lại của hệ đề tài, toàn bộ các vấn đề và cảm hứng của nó. Do đó các tác phẩm của thể loại này hay thể loại khác trong sáng tác của nhà văn của các thời đại và trào lưu văn học khác nhau nhất định sẽ có những đặc điểm khác nhau của các cốt truyện, kết cấu, ngôn từ nghệ thuật. Nhưng đồng thời trong quan hệ này chúng cũng sẽ khác với các tác phẩm của những thể loại khác trong sáng tác của chính các nhà văn đó. Như vậy là các loại thể cũng giống như các loại văn học thường xuyên có những sự khác biệt cơ bản trong hình thức của mình, tuy nhiên vẫn có thể phát hiện những đặc điểm nội dung mang nét chung nào đó được lặp lại một cách lịch sử. Rõ là uổng công ví dụ sự nỗ lực làm điều đó của trong lý thuyết tiểu thuyết của mình đã đưa tất cả đặc điểm thể loại này vào cấu trúc tác phẩm. Trong sáng tác của Stern, đã đặc biệt nghiên cứu theo quan điểm ấy một trong những tiểu thuyết của nhà văn có kết cấu xác định. Nhưng các tiểu thuyết của Risácxơn lại có kết cấu khác, các tiểu thuyết của thì có kết cấu của mình, còn những tiểu thuyết của Đichken đặc biệt trong giai đoạn sau của sáng tác của ông khác biệt dữ dội về mặt kết cấu với tiểu thuyết của các nhà văn xuôi Anh tiền bối. Cũng dễ vạch ra điều đó trong các nền văn học dân tộc khác. Các tiểu thuyết của các nhà văn Nga lớn nhất được sáng tác trong cùng một thời đại của Gôntrarốp, Tuốcghênhép, L. Tônxtôi, Đôxtôiepxki, khác biệt nhau rõ rệt bởi tất cả các đặc điểm hình thức của mình, bởi cốt truyện, các chi tiết tạo hình trực quan, kết cấu các hình tượng và toàn bộ sự trần thuật, ngôn từ nghệ thuật. Tuy nhiên toàn bộ chúng là hiện tượng của một thể loại, toàn bộ chúng là các tiểu thuyết. Cái gì là cái chung giữa chúng. Điều đó tất nhiên là cái tính chung nội dung thể loại của chúng. Nhưng vấn đề cái chung ấy cũng chưa được quyết định một cách đầy đủ rõ ràng trong khoa học hiện đại về văn học. Phạm trù thường có tên phương pháp sáng tác là một phạm trù có nội dung phong phú. Những năm 1930 các nhà văn học Xô Viết đã đi tới sự phân hóa rất quan trọng các khái niệm khoa học trong mối quan hệ này. Họ đã nêu ra vấn đề phương pháp sáng tác, xem nó lànguyên tắc phản ánh nghệ thuậtnày khác, ví như chủ nghĩa hiện thực. Họ đã xác định rằng các trào lưu văn học như những hiện tượng lịch sử cụ thể không lặp lại và các phương pháp sáng tác như những thuộc tính loại hình lặp lại một cách lịch sử của các tác phẩm văn học. Đó không phải là cái gì hoàn toàn khác biệt rằng trong các tác phẩm của trào lưu này hay trào lưu khác có thể xuất hiện các phương pháp sáng tác khác nhau, những nguyên tắc phản ánh cuộc sống khác nhau. Đương nhiên rằng nguyên tắc này hay nguyên tắc khác phản ánh nghệ thuật cuộc sống thì đó cũng là một phương diện của nội dung các tác phẩm văn học. Những phương diện ấy có thể tồn tại trong sáng tác của nhà văn những thời đại và trào lưu khác nhau, được lặp lại một cách lịch sử, trong khi vẫn có những đặc điểm không lặp lại ở những đặc điểm cụ thể của nội dung sáng tác của họ. Hiển nhiên của Phônvidin và Rađisép, cả Gôgôn và Nhêcraxốp, cả và Sêkhốp là những nhà hiện thực chủ nghĩa trong phương diện phê phán của nội dung của tác phẩm của mình,mặc dù họ sáng tác trong những thời đại khác nhau và thuộc về những trào lưu khác nhau. Nhưng về sau nhiều nhà nghiên cứu văn học Xô Viết đã làm mất đi tính chính xác và đơn giản của khái niệm đó. Họ dần dần đã biến phương pháp sáng tác từ khái niệm loại hình học thành khái niệm cụ thể lịch sử. Họ đã gọi những đặc điểm hệ đề tài, toàn bộ vấn đề và cảm hứng sáng tác của các nhà văn của một thời đại nhất định và một trào lưu nhất định là phương pháp sáng tác và đôi khi cùng với cả những đặc điểm cụ thể của hình thức các tác phẩm của chúng. Hơn nữa họ đã không xây dựng một thuật ngữ mới nào có thể làm rõ thêm phương diện loại hình học của nội dung, các phương diện mà trước kia trong những năm 30 họ đã gọi là phương pháp sáng tác. Và điều đó thường đưa đến lẫn lộn khái niệm. Mỗi biểu hiện của sự không hoàn thiện và thiếu bền vững của khái niệm mới là trong khi gọi một trong những nguyên tắc của phản ánh nghệ thuật cuộc sống, các nhà nghiên cứu văn học của chúng ta cho đến bây giờ đã 35 năm trôi qua kể từ khi bắt đầu nói về phương pháp sáng tác đã không thỏa thuận gọi một cách khác hoặc những nguyên tắc của sự phản ánh nghệ thuật cuộc sống là phi hiện thực chủ nghĩa. Thoạt đầu tiên nguyên tắc phản ánh khác với chủ nghĩa hiện thực đã được người ta gọi là chủ nghĩa lãng mạn. Nhưng dưới cái tên chủ nghĩa lãng mạn đã từ lâu thường hiểu là một trào lưu văn học nhất định hay chính xác hơn là những trào lưu xuất hiện trong các nền văn học châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và giữa chúng có nhiều cái chung. Đối với mỗi nền văn học dân tộc, chủ nghĩa lãng mạn đã là một hiện tượng cụ thể lịch sử và không lặp lại. Mưu toan bổ sung ý nghĩa loại hình học cho dấu hiệu lịch sử cụ thể ấy đồng thời đã làm rối rắm thêm các khái niệm nghiên cứu văn học. Hơn nữa thuật ngữ chủ nghĩa lãng mạn đến lúc dần dần đã có thêm ý nghĩa loại hình học khác. Cảm hứng lãng mạn của sáng tác như đặc tính được lặp lại một cách lịch sử của nội dung các tác phẩm văn học đã được họ làm rõ. Tất cả điều đó đã gây ra rất khó khăn việc sử dụng chính xác thuật ngữ chủ nghĩa lãng mạn. Đồng thời điều đó làm mất đi sự sáng rõ và sự hiểu biết thực chất nguyên tắc phản ánh đời sống đối lập với chủ nghĩa hiện thực là gì, là cái gì từ phía nội dung tác phẩm. Nhưng cả những khái niệm có tính chất loại hình khác phản ánh những đặc tính và các biến thể khác nhau của cảm hứng tư tưởng cảm xúc của các tác phẩm văn học cũng không đem lại sự sáng tỏ đầy đủ trong khoa học hiện đại về văn học. Ví dụ sự khác nhau giữa cảm hứng anh hùng và lãng mạn, giữa tính chất anh hùng và tính chất bi kịch, giữa tính cao thượng và tính hài kịch, giữa cảm hứng hài hước và châm biếm là chỗ nào? Nhưng chính tất cả những điều đó cũng mang những đặc tính lặp lại một cách lịch sử các nội dung văn học nghệ thuật, mà những đặc tính ấy cũng nhận được tính cụ thể lịch sử của mình trong các tác phẩm các nhà văn những thời đại và trào lưu khác nhau. Như vậy là bên cạnh hệ thống những khái niệm có tính chất loại hình phản ánh những đặc tính lặp lại một cách lịch sử của hình thức nghệ thuật, trong nghiên cứu văn học cần phải xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh những khái niệm phản ánh những đặc tính được lặp lại một cách lịch sử củanội dungcó tính nghệ thuật. Cần có một bộ phận khác của thi pháp chuyên nghiên cứu chúng, đó là thi pháp nội dung. Với sự hỗ trợ của một loại khái niệm nhằm khám phá sự phát triển mang tính lịch sử của văn học trong những nguyên tắc có nội dung phong phú của nó, các nhà nghiên cứu văn học có thể tiến hành một cách hiệu quả việc nghiên cứu từ trình độ biểu đồ sự kiện sáng tác của các nhà văn riêng lẻ một việc rất quan trọng đến việc nghiên cứu khoa học sâu sắc quá trình văn học trong tính quy luật lịch sử xã hội của nó. Trong khi gác lại phương diện loại hình của hình thức nghệ thuật, cuốn sách này giới thiệu sự xem xét tỉ mỉ những vấn đề liên quan với các phương diện loại hình của nội dung các tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhưng những vấn đề được đặt ra trong cuốn sách hiển nhiên cần phải dựa vào sự hiểu biết tổng quát về nghệ thuật nói chung và về văn học nghệ thuật nói riêng. Tác giả đã trình bày những quan điểm của mình trong cuốn Cái thẩm mĩ và cái nghệ thuật Nhà xuất bản MGU, 1965. các văn học đương đại hoặc phong trào đương đại bao gồm tất cả các biểu hiện văn học đã xảy ra kể từ thời hậu hiện đại. Nó được xác định bởi một thời kỳ nhưng cũng bởi phong cách rất đặc biệt của nó. Hầu hết các học giả gọi văn học đương đại là tất cả sản xuất văn học sau Thế chiến II, vào những năm 1940. Thời kỳ này kéo dài đến hiện tại. Văn học đương đại được đặc trưng bởi sự phân mảnh, người kể chuyện không đáng tin cậy, pastiche bắt chước phong cách và tác giả, thay đổi lời kể, trình bày và chơi phi tuyến tính và sự không chắc chắn trong ngôn ngữ. Theo cách tương tự, tài liệu này được công nhận bởi nội dung lịch sử hậu hiện đại. Điều này có liên quan đến thời đại của máy tính, robot, điện thoại di động, toàn cầu hóa, trong số những người khác. Bây giờ, một số tác phẩm hoặc một số nhà văn có thể được coi là đương đại nếu nó chia sẻ những phẩm chất phong cách, nghệ thuật hoặc chủ đề của thời hiện tại. Theo khái niệm này, thậm chí một số nhà văn của các thế kỷ khác có vẻ đương đại. Phần lớn văn học đương đại đến từ các tác giả phương Tây, mặc dù thuật ngữ này không dành riêng cho văn học châu Âu hay châu Mỹ. Trên thực tế, toàn cầu hóa đã cho phép chúng ta đánh giá cao các tác phẩm đương đại được viết bởi nhiều nhân vật văn học ở Trung Đông, Châu Phi và Châu Á. Ngoài tiểu thuyết và thơ, phong cách văn học này bao gồm nhiều thể loại khác nhau, chẳng hạn như tiểu thuyết truyền thống và các hình thức khác phù hợp với thực tế mới tiểu thuyết đồ họa hoặc văn học blog.Chỉ số1 Xuất Từ 1940 đến Từ năm 1990 đến nay2 Đặc Quan điểm cá Tài nguyên tường thuật sáng Hiện thực huyền Vấn đề nhắc Ảnh hưởng của Thế chiến Tiểu thuyết và phi hư cấu xếp chồng3 thể Thể loại tiểu thuyết kinh Văn học của nhà văn Tiểu thuyết đồ họa3,4 Văn học cho trẻ Khoa học viễn Tài liệu blog4 Văn học đương đại ở Mexico Đặc điểm Tác giả đại diện5 Văn học đương đại ở Tây Ban Đặc Tác giả đại diện6 Văn học đương đại ở Đặc Tác giả đại diện7 tài liệu tham khảo Nguồn gốcTừ 1940 đến 1990Trong quá trình nửa thế kỷ này, nhân loại đã chứng kiến ​​vô số thay đổi. Sự kết thúc của Thế chiến II, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu và sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã đánh dấu sự khởi đầu của một xã hội ra, những đổi mới công nghệ đã xuất hiện, như điện thoại di động và Internet, TV màu và đĩa kỹ thuật số DVD, trong số những thứ khác. Đó cũng là thời đại của âm nhạc mới, như hip hop, và sự chấp nhận các nền văn hóa toàn bộ làn sóng thay đổi này, văn học đã được làm phong phú với các thể loại mới. Nhiều trong số này là một phản ứng với những thay đổi công nghệ và thực tế xã hội mới. Một đặc điểm của văn học đương đại thời gian này là nhiều câu chuyện dựa trên thực tế và có cốt truyện đáng tin cậy. Trong hai thập kỷ đầu tiên, văn học đương đại đã chia sẻ không gian với Chủ nghĩa hiện đại, giữ lại một số tính năng nhất định, chẳng hạn như tập trung vào các nhân vật thay vì cốt sự phát triển sau này cho đến những năm 1990, đương đại đã thay đổi thành mô tả về thực tế cứng. Tương tự như vậy, anh tập trung chú ý vào việc phơi bày các vấn đề tâm lý như loại trừ và cô năm 1990 đến nayGiai đoạn từ những năm 1990 đến năm 2000 được đặc trưng bởi toàn cầu hóa, mối quan tâm ngày càng tăng về sự nóng lên toàn cầu và cuộc chiến chống khủng bố Hồi ra, đó là một thập kỷ được đánh dấu bởi các cuộc chiến tranh, thiên tai và dân số ngày càng tăng. Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất cũng xảy ra kể từ Đại suy thoái, suy thoái kinh tế năm 2008 và nhiều người mất việc. Do đó, văn học đương đại đã nhận được tất cả những ảnh hưởng này và được nuôi dưỡng bởi tất cả những bối cảnh mới này. Đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội, các thể loại mới đã xuất hiện. các mạng xã hội, các bưu điện, tiểu thuyết giả tưởng mới và sự trở lại với số liệu và vần điệu trong thơ là những dấu hiệu của thời đại mới. Tính năngQuan điểm cá nhânCác tác phẩm của văn học đương đại phản ánh quan điểm xã hội và chính trị của các tác giả của họ. Chúng được thể hiện thông qua các nhân vật, các kết nối với các sự kiện và thông điệp kinh tế xã hội của các tác phẩm của họ. Tài nguyên tường thuật sáng tạoCó một sự phá vỡ với các kỹ thuật kể chuyện trước đây. Văn học đương đại sử dụng các tài nguyên kể chuyện tiên phong, chẳng hạn như sửa đổi thời gian và trình bày thế giới nội tâm của các nhân thực huyền diệuSự phát triển của chủ nghĩa hiện thực huyền diệu như một kỹ thuật kể chuyện đại diện cho một bước đột phá trong văn học đương đại của thế kỷ XX. Kỹ thuật cách mạng này được đánh dấu bởi một nhân vật chính trị xã hội sâu vấn đề cấp báchHầu hết các chủ đề của văn học đương đại đều liên quan đến các vấn đề áp đảo của thế giới hiện nay, như toàn cầu hóa, chủng tộc và giới tính, bất bình đẳng, khí hậu và môi trường, chiến tranh và khủng bố. Tương tự như vậy, trong danh sách mở rộng này, bạn có thể tìm thấy các chủ đề khác, chẳng hạn như chính trị và kinh tế, đạo đức và đạo đức, văn hóa đại chúng và truyền thông, tội phạm quốc tế và các chủ đề khác..Ảnh hưởng của Thế chiến IICác tác phẩm của văn học đương đại có xu hướng bị ảnh hưởng bởi lối sống thịnh vượng sau Thế chiến II. Phong cách văn học này bắt nguồn từ sự tàn phá mà chiến tranh mang lại cho thế giới. Tiểu thuyết và phi hư cấu xếp chồngTrong văn học đương đại, sự phân biệt giữa tiểu thuyết và phi hư cấu có thể bị xóa nhòa; Điều này được gọi là chéo. Các tác giả tiểu thuyết dựa trên những câu chuyện về các sự kiện trong đời thực và thậm chí có thể bao gồm các tài liệu xác thực. Mặt khác, các nhà văn phi hư cấu làm cho các nhân vật lịch sử trở nên sống động bằng cách kết hợp các cuộc đối thoại và cảnh tưởng loạiThể loại tiểu thuyết kinh điểnThể loại này được tạo thành từ những câu chuyện, tiểu thuyết, vở kịch, thơ và phim. Mọi thứ đều là tưởng tượng và được phát minh, nhưng nó được trình bày như một tấm gương phản ánh cuộc sống và trải nghiệm của con người, theo một cách cụ thể hoặc trừu tượng. Bây giờ, cách đầu tiên để phân biệt tiểu thuyết đương đại là nó sẽ có những sự thật và cảm xúc phổ quát mà mỗi con người có thể trải nghiệm. Theo một cách nào đó, nó mang lại biểu hiện cho cảm tự, tiểu thuyết trong văn học đương đại là hiện thực, có nghĩa là nó có các đặc điểm sau- Nó chứa các nhân vật hành xử theo cách mà hầu hết độc giả sẽ. Các nhân vật phải đáng tin Câu chuyện lấy bối cảnh hiện tại..- Môi trường là một nơi thực sự, hoặc ít nhất nó có vẻ như là một nơi thực Sự kiện là những sự kiện có thể xảy ra trong cuộc sống Đối thoại là không chính thức và đàm thoại, và thường bao gồm các phương ngữ khu học của nhà văn maMột số lượng đáng ngạc nhiên của các cuốn sách thành công được viết bởi các nhà văn ma. Nhưng cũng có tiểu thuyết ma. Theo định nghĩa, các tác giả này không có tên và chỉ có đồng nghiệp và nhà xuất bản của họ, những người phụ thuộc vào họ biết họ..Tiểu thuyết đồ họaTiểu thuyết đồ họa thường được hiểu là phim hoạt hình với một câu chuyện dài dành cho khán giả trưởng thành, được xuất bản bằng bìa cứng hoặc mộc mạc và được bán trong các nhà sách, với các chủ đề văn học nghiêm túc và các tác phẩm nghệ thuật tinh học cho trẻ em20 năm qua đã chứng kiến ​​sự nở rộ của chữ viết cho trẻ em. Trong số các đại diện hàng đầu của tài liệu này là C. S. Lewis Biên niên sử Narnia và Rowling Harry Potter.Khoa học viễn tưởngKhoa học viễn tưởng là một nhánh rất phổ biến trong văn học đương đại. Điều này đan xen với tiến bộ công nghệ của thế nhiên, tác phẩm văn học của khoa học viễn tưởng không nhất thiết ngụ ý một cơ sở khoa học vững chắc. Một nhà văn có thể tạo ra một tác phẩm văn học khoa học viễn tưởng để thể hiện quan điểm hoặc khái niệm thay văn họcBlog tạp chí trực tuyến của tác giả cá nhân hoặc chung đã trở thành một phương tiện mới để tạo ra các tác phẩm văn học. Thậm chí, có những trường hợp những sáng tạo này đã trở thành sách. Văn học đương đại ở Mexico Tính năng Cho đến giữa những năm 1940, một số phong cách kể chuyện cùng tồn tại ở Mexico. Tường thuật hiện thực được kế thừa từ những năm 1900 vẫn tồn tại, và tiểu thuyết bản địa và những suy tư về văn hóa dân tộc và đang nổi năm 1947, ông bắt đầu văn học Mexico đương đại. Điều này đã bị ảnh hưởng bởi các nhà văn Mỹ và châu Âu. Tạp chí văn học nhóm các nhà văn đương đại và xuất bản các tác phẩm của họ xuất nhóm đã lấy tên của tạp chí tài trợ cho họ và làm cho tài trợ này trở thành một xu hướng văn chủ đề và kỹ thuật trần thuật trở nên trùng khớp với các chủ đề của các nhà văn đương đại khác từ các vĩ độ giả đại diệnJuan Rulfo 1917-1986Ông là một nhà văn, nhà biên kịch và nhiếp ảnh gia sinh ra ở bang Jalisco. Hai tác phẩm hay nhất của ông là Pedro Páramo và El llano en llamas. Cuốn thứ nhất là tiểu thuyết và cuốn thứ hai là tập truyện ngắn. Laura Esqu Xoay 1950-Nó được công nhận trên toàn thế giới với cuốn tiểu thuyết Como agua para chocolate, được ra mắt vào năm 1989. Cuốn tiểu thuyết này đã trở thành doanh thu số một ở Mexico trong ba năm. Đó cũng là chủ đề cho một bộ phim đình đám cùng Paz 1914-1998Ông nổi bật như một nhà văn, nhà thơ và nhà ngoại giao vĩ đại người Mexico. Trong sản xuất rộng rãi của ông, họ nhấn mạnh Mặt trăng hoang dã, Giữa đá và hoa, Mê cung của sự cô độc, Piedra de sol và Libertad en palabra. Hầu hết các tác phẩm của ông đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ trên khắp thế giới. Sau khi ông qua đời năm 1998, Octavio Paz trở thành nhà văn Mexico đầu tiên giành giải thưởng Nobel Hòa học đương đại ở Tây Ban NhaTính năngTừ năm 1975 đến nay, trong văn học Tây Ban Nha đương đại, có một sự xuất hiện của tiểu thuyết so với các thể loại khác. Bối cảnh văn học được bao phủ bởi tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết phiêu lưu, trong số những người tự như vậy, các vấn đề bị cấm trong quá khứ được thảo luận, chẳng hạn như tự do tình dục và các vấn đề liên quan khác. Sản phẩm văn học này được điều chỉnh bởi các thị trường xuất bản và giải thưởng văn cùng một thứ tự ý tưởng, văn học hiện có mối liên hệ chặt chẽ với sản xuất phim. Trong các tác phẩm chuyển thể, các nhà làm phim cố gắng chen vào những di sản của Tây Ban Nha và những đặc thù của xã hội giả đại diệnJavier Marías 1951- Ông được một số nhà phê bình coi là nhà văn Tây Ban Nha đương đại sống tốt nhất. Từ tác phẩm của mình, chúng ta có thể làm nổi bật các tiêu đề sau Corazon tan blanco và khuôn mặt của bạn vào ngày đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm Giải thưởng Rómulo Gallegos năm 1994, Giải thưởng văn học quốc tế IMPAC tại Dublin năm 1997 và Giải thưởng Nhà nước Áo cho Văn học châu Âu năm Montero 1951-Cô đã được ca ngợi là cả một nhà báo và một tiểu thuyết gia. Tiểu thuyết của ông Chức năng Delta và Ngôi nhà điên, đã có những thành công lớn về văn học và thương đã giành được giải thưởng Qué Leer cho cuốn sách hay nhất được xuất bản ở Tây Ban Nha, và giải thưởng Grinzane Cavour của Ý cho cuốn sách nước ngoài hay nhất. Ông cũng đã nhiều lần giành giải thưởng báo chí quốc Vila-Matas 1948-Ông đã xuất sắc trong nhiều cách đánh giá phim, tiểu thuyết, tiểu luận và kịch bản phim. Ông đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, Woman in the Mirror, khi ông còn là một thiếu các giải thưởng mà nó đã giành được, họ nhấn mạnh giải thưởng của Ý là Bottari Lattes Grinzane, giải thưởng Pháp Jean Carriere và giải thưởng Leteo của Tây Ban Nha. Các tác phẩm của Vila-Matas đã được dịch sang nhiều ngôn học đương đại ở ColombiaTính năngPhong trào văn học Colombia đương đại chịu ảnh hưởng rất lớn từ lịch sử chính trị của đất nước. Trong các chủ đề sản xuất tiểu thuyết như chiến tranh nội bộ, buôn bán ma túy, tham nhũng, trong số những người ra, bản sắc dân tộc đã trở thành hợp lệ. Bằng chứng về điều này là số lượng lớn các tác phẩm về lịch sử chính trị, văn hóa và xã hội của đất nước. Đồng thời, những cách kể chuyện mới lạ đã xuất hiện; một trong số đó là việc sử dụng chủ nghĩa hiện thực huyền giả đại diệnGabriel Garcia Marquez 1927- 2014Ông là một tiểu thuyết gia, người kể chuyện, nhà biên kịch và nhà báo người Colombia. Được biết đến như El Gabo trên khắp châu Mỹ Latinh, ông được coi là một trong những tác giả quan trọng nhất của thế kỷ 20 và là một trong những người giỏi nhất trong ngôn ngữ Tây Ban số nhiều sự công nhận của ông về đại diện không thể chối cãi này của chủ nghĩa hiện thực huyền diệu là Giải thưởng quốc tế Neustadt cho Văn học năm 1972 và Giải thưởng Nobel Văn học năm 1982. Trong số các tác phẩm văn học sâu rộng của ông có thể kể đến Một trăm năm cô đơn, Mùa thu của tộc trưởng, Tình yêu trong thời gian dịch tả và Biên niên sử của một cái chết được công Restrepo 1950-Cô là một nhà báo và nhà văn người Colombia được công nhận vì đã phát triển một sự pha trộn giữa thực tế và hư cấu để tạo ra một phong cách mà cô gọi là "phong cách báo cáo". Tác phẩm của ông làm nổi bật Isla de pasión, bò Las ăn mì spaghetti và tiểu thuyết Delirio của ông. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng này đã được trao giải thưởng Alfaguara năm Gabriel Vásquez 1973-Juan Gabriel Vásquez là một nhà văn nổi tiếng với tác phẩm El ruido de las cosas al caer. Trong tác phẩm này, người chiến thắng giải thưởng Alfaguara, nó xoay quanh việc buôn bán ma túy và bạo lực sau đó do Pablo Escobar gây ra. Tài liệu tham khảo Carnevale, J. s / f. Văn học đương đại là gì? - Định nghĩa & Phong cách viết. Lấy từ nghiên E. 2018. 11 tháng 3. Văn học đương đại là gì? Lấy từ S. s / f. Lịch sử và tuyển tập văn học Mỹ gốc Tây Ban Nha. Lấy từ s / f. Đặc điểm của văn học đương đại. Lấy từ thí nghiệm tâm thu. S / f. Văn học đương đại là gì? Lấy từ C. s / f. Văn học Mexico - Lịch sử và Khí hậu chính trị của Mexico. Lấy từ thelatino Tác A. 2018, ngày 10 tháng 1. 10 trong số các nhà văn Tây Ban Nha đương đại tốt nhất. Lấy từ C. 2017, ngày 11 tháng 6. 7 tác giả người Colombia đương đại không phải là García Márquez. Lấy từ R. 2012, ngày 19 tháng 11. Sự gia tăng của thể loại văn học. Lấy từ

nguồn gốc của văn học